Dù đã có những quy định và hướng dẫn cụ thể, nhưng xoay quanh điều luật vẫn còn rất nhiều vấn đề còn “vênh” với thực tiễn thị trường.
 
Thứ nhất, quy định này không nói rõ liệu việc không có bảo lãnh do NH phát hành có làm vô hiệu giao dịch bán hay cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai hay không.
 
 
Cũng không nói rõ các cơ quan quản lý, giám sát thị trường sẽ quản lý các dự án bất động sản thực thi nghĩa vụ này như một nghĩa vụ đơn thuần của chủ đầu tư, hay nếu chủ đầu tư không thực hiện nghĩa vụ thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực của các giao dịch?
 
Vì lẽ đó mà trên thị trường, khách hàng mua nhà vẫn còn “lớ ngớ” trước thông tin bảo lãnh và chưa đặt nhiều niềm tin vào các dự án đã công bố có bảo lãnh. Cũng như ngược lại, những dự án chưa có bảo lãnh cũng được chủ đầu tư chào bán “rào rào”.
 
Tại TP HCM, trong năm 2015, thị trường ghi nhận thông tin nhiều chủ đầu tư dự án bắt tay với NH để công bố bảo lãnh tài sản nhà ở hình thành trong tương lai.
 
Đánh giá cao các thông tin này, song theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP HCM muốn được NH phát hành chứng thư bảo lãnh có giá trị 100 tỷ đồng thì chủ đầu tư phải có 100 tỷ đồng đặt vào NH hoặc tài sản có giá trị gấp khoảng 1,3 lần để làm tài sản bảo đảm.
 
Điều này theo ông Châu là khó khả thi vì mỗi dự án có mức đầu tư hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỷ đồng, DN không thể xoay sở được số tiền lớn như vậy.
 
Phân tích này cũng khiến thị trường đặt câu hỏi rằng vậy phải chăng những dự án đã được công bố có bảo lãnh, về mặt nào đó, mang tính truyền thông về nghĩa vụ mà chủ đầu tư đã thực hiện, hay nói cách khác mang tính “hình thức” hơn là thực chất?